Đến năm 2030, Việt Nam không còn độc lập về mặt năng lượng

Phát biểu tại Nghị trường về tình hình kinh tế – xã hội trong sáng nay, 26/10, ông Lê Minh Chuẩn đã phân tích vai trò của ngành than.

Theo ông, ngành than đang giữ vị trí quan trọng đối với an ninh năng lượng toàn cầu và tác động không nhỏ đến tình hình sản xuất, ổn định xã hội.

Trên thế giới, vị trí của than đang chiếm khoảng 39% về năng lượng và được dự báo tăng thêm 1,5% đến năm 2030. Riêng về điện, hiện nguồn điện được sản xuất từ than chiếm khoảng 40% trên toàn thế giới. Đối với những nước lớn như Trung Quốc là 43%, Úc và Ấn Độ vào khoảng 70%. Tại Việt Nam, theo quy hoạch nhiệt điện than chiếm khoảng 34% và dự báo tăng lên xấp xỉ 50% vào năm 2040.

“Trong 8 tháng qua thì sản xuất điện từ than chiếm 41%”, ông Chuẩn nói. Cung cấp thêm về kế hoạch năng lượng, ông cho biết năng lượng tái tạo sẽ tăng từ 3 – 10%, nguồn điện từ khí giảm từ 44 xuống còn 26%.

Điều này có nghĩa là than vẫn chiếm vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn điện trong ngắn hạn, từ 15 – 20 năm tới trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.

Tuy nhiên, Việt Nam đang đứng trước hiện tượng thiếu than, dẫn đến nguy cơ về hậu quả nghiêm trọng.

Cụ thể, trong giai đoạn 2017 – 2020, nhu cầu than antraxit cho nhà máy nhiệt điện đã và sẽ hoạt động chiếm khoảng 40 triệu tấn/năm. Sản lượng này sẽ tăng lên 55 triệu tấn giai đoạn 2021 – 2030.

Dù vậy, Việt Nam hiện chỉ có 2 đơn vị sản xuất than là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc với sản lượng khoảng 41 triệu tấn than. “Như vậy trong thời gian ngắn phải tăng thêm 10 – 15 triệu tấn than cho các nhà máy nhiệt điện là không khả thi”, ông Chuẩn nhận xét.

Việc này sẽ khiến các nhà máy nhiệt điện đứng trước nguy cơ khó khăn về sản xuất điện, gây ảnh hưởng đến an ninh năng lượng quốc gia.

Mặt khác, ông Chuẩn cho biết trong kế hoạch 2017 – 2030, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 70 triệu tấn than. Số lượng này được ông đánh giá là “không còn thuần tuý thương mại nữa”. Thay vào đó, Việt Nam cần phải tìm được nguồn đầu tư ổn định ở nước ngoài.

“Đến năm 2030, Việt Nam không còn độc lập về mặt năng lượng mà phụ thuộc vào nguồn cung ngoài nước”, ông nói và cho biết đây là thách thức rất lớn đối với an ninh năng lượng quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, xã hội.

Phân tích về những thách thức của ngành khai khoáng, vị đại biểu này đưa ra 4 nguyên nhân.

Thứ nhất lượng than trong nước chủ yếu nằm ở Quảng Ninh nhưng đến nay nguồn than này vẫn chưa được tường minh. Còn bể than ở Đồng bằng sông Hồng chưa có công nghệ để khai thác.

Thứ hai, điều kiện khai thác mỏ càng lúc càng khó khăn. Mọi điều kiện, chi phí năng suất lao động mỏ đang tăng lên nhanh chóng tạo gánh nặng lên doanh nghiệp.

Thứ ba, việc cấp phép đầu tư cho hầm than đang hạn chế. Ông Chuẩ nói rằng doanh nghiệp khi muốn tái đầu tư vào mỏ than gặp rất nhiều bất cập, khó khăn.

Thứ tư, nguồn nhân lực chính, là thợ mỏ, đang suy giảm nhanh chóng. Trong khi đó, doanh nghiệp vẫn chưa có công nghệ để thay thế.

Từ 4 nguyên nhân này, ông đề nghị Chính phủ quan tâm đến 4 đề xuất tương ứng. Đầu tiên là đổi mới chính sách về quản lý tài nguyên khoáng sản theo nguyên tắc thị trường, hội nhập ngay từ việc cấp giấy phép để các doanh nghiệp mỏ, khí được chủ động phát triển nguồn tài nguyên.

Tiếp theo cần bổ sung, hoàn thiện cơ sở pháp lý, văn bản dưới luật về quản lý tiêu chuẩn phân cấp cho các doanh nghiệp than khí có môi trường đầu tư thuận lợi kể cả trong nước và ngoài nước.

Chính phủ cần có cơ chế bình đẳng giữa than nhập khẩu và than trong nước theo thông lệ, giá quốc tế. Bên cạnh đó, vị đại biểu này cũng đề xuất các chính sách hỗ trợ cho công nhân ngành than như tiền lương, bảo hiểm, thâm niên.

Đại biểu QH đề nghị Chính phủ làm rõ nguyên nhân vì sao số doanh nghiệp giải thể tăng cao

Sáng 26/10, Quốc hội thảo luận ở hội trường về các vấn đề kinh tế – xã hội hằng năm và giữa kỳ 2016-2020. Tham gia phát biểu, Đại biểu Trần Văn Tiến (Vĩnh Phúc) đã đề cập đến vấn đề giải thể doanh nghiệp.

Theo Đại biểu Tiến, trong 9 tháng số doanh nghiệp thành lập mới tăng thấp 2,8%, cùng kỳ tăng 15,4%; số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tăng 48,1% cùng kỳ tăng 9,1%; số doanh nghiệp giải thể tăng 32,1% trong khi cùng kỳ tăng 4,4%. Như vậy cứ 100 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động thì có 77 doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể.

Đại biểu Tiến đề nghị “Chính phủ chỉ rõ nguyên nhân tại sao doanh nghiệp phát triển chững lại và số doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể lại tăng rất cao trong khi Chính phủ đang nỗ lực thực hiện cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh …Với đà phát triển như hiện nay mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp có đạt được không?”

Cũng tại buổi thảo luận, Đại biểu Tiến bày tỏ mong muốn Chính phủ giải trình rõ động lực tăng trưởng GDP 2018 do đâu, trong khi một số chỉ tiêu như dịch vụ, tăng năng suất lao động, đóng góp các nhân tố tổng hợp thấp hơn năm 2017 và không đạt mục tiêu năm 2018; giải ngân vốn ngân sách 3 năm chưa năm nào đạt mục tiêu…

Ngoài ra, về dự kiến một số chỉ tiêu năm 2019 với chỉ tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu từ 7-8% theo đại biểu Tiến cần xem xét thêm vì trong mấy năm qua chỉ tiêu này đều tăng trên 10%, mặt khác mục tiêu đến năm 2020 đạt 10% do vậy cần nâng tỷ lệ này lên từ 9-10% là hợp lý. Với chỉ tiêu về tỷ lệ nhập siêu với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt dưới 3% cũng cần xem xét thêm vì 3 năm trở lại đây là xuất siêu do vậy nên để xuất siêu cho phù hợp với thực tiễn.

Ông Tiến cũng đề nghị quan tâm thêm một số nội dung nhằm khắc phục, cụ thể xác định lại mức dự toán thu ngân sách tại một số địa phương, đơn vị cho phù hợp với mức thu thực tiễn trong những năm gần đây; cần khắc phục những hạn chế, bất cập trong đầu tư công để đảm bảo trong việc giải quyết, giải ngân hết trong năm kế hoạch, đồng thời đẩy nhanh tiến độ xây dựng và nâng cao chất lượng dự án quốc gia nhằm phát huy hiệu quả nguồn vốn đầu tư; tập trung nắm bắt và giải quyết những tháo gỡ cho doanh nghiệp,…

Ngọc Anh

Theo Thời đại

Chính phủ chủ trương bỏ chế độ “công chức suốt đời”

Đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, tập trung siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên.

Đó là một trong những nội dung chính tại Nghị quyết số 132/NQ-CP của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký ban hành về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Trung ương Đảng về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ và Kế hoạch số 10-KH/TW của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW.

Xử nghiêm cả cán bộ về hưu

Tại nghị quyết, Chính phủ yêu cầu Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát, báo cáo Chính phủ nội dung sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật cán bộ, công chức, Luật viên chức và các luật, nghị quyết có liên quan đến tổ chức bộ máy và công tác cán bộ để trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến, thông qua trong năm 2018, 2019.

Trong đó chú trọng tới các quy định về: thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ, đặc biệt là công tác quản lý cán bộ; kiểm soát quyền lực; kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, trong đó chú trọng xử lý nghiêm những trường hợp sai phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu; chuẩn hoá, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, đánh giá cán bộ, công chức.

Xác định vị trí việc làm gắn với chức danh, chức vụ để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tiến tới bỏ chế độ “công chức suốt đời”; hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững; các nội dung về thi đua, khen thưởng bảo đảm đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, khắc phục tình trạng chia tỷ lệ, cào bằng.

Kiên quyết xóa chạy chức, chạy quyền

Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình rà soát đội ngũ cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý để xác định các đối tượng trong từng đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đáp ứng được các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, uy tín, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, phù hợp về độ tuổi, tỉ lệ nữ và dân tộc thiểu số, có tính đến kế thừa và chuyển tiếp trong từng giai đoạn cụ thể.

Tập trung siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên, đồng thời chú trọng tạo lập môi trường làm việc dân chủ, cạnh tranh, bình đẳng, tạo mọi điều kiện để phát huy trí tuệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, hoàn thiện cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Cùng với đó phải xác định rõ trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, đặc biệt là của người đứng đầu trong việc tiến cử người có đức, có tài để đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử người thay thế mình; hoàn thiện cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm.

Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền; huỷ bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, không có “vùng cấm”…

Doanh thu từ công nghệ thông tin gấp đôi ngành ô tô nhưng trình độ phát triển CNTT nước ta còn tụt hậu rất xa

Sáng 26/10, Quốc hội thảo luận ở hội trường về các vấn đề kinh tế – xã hội hằng năm và giữa kỳ 2016-2020.

Tham gia phát biểu, Đại biểu Nguyễn Quốc Bình (Hà Nội) đã đề cập đến vấn đề cách mạng công nghiệp 4.0.

Theo đại biểu Bình, công nghệ thông tin cần có chính sách nhanh, mạnh, phát triển công nghệ thông tin (CNTT) tạo nền tảng cho cách mạng CN 4.0 ở nước ta. Cách mạng công nghiệp 4.0 về bản chất là quá trình chuyển đổi số, là sự chuyển đổi rộng lớn về mô hình kinh doanh chuyển từ mua bán sang thuê và cung cấp dịch vụ hay gọi là nền kinh tế mà mọi thứ như là dịch vụ. Những dịch vụ như Alibaba, Amazon, Uber… là những ví dụ tiêu biểu cho kinh tế số, kinh tế chia sẻ đã giúp một nền kinh tế mà mọi thứ dịch vụ được hình thành.

“Trong cách mạng công nghiệp 4.0, CNTT trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và CNTT không và không nên coi là ngành riêng mà cần thiết được xem là yếu tố cấu thành mọi hoạt động tương tự yếu tố nhân lực, yếu tố tài chính là yếu tố cốt lõi tạo ra tăng trưởng trong nền kinh tế số”, đại biểu Binh cho biết.

Theo Sách Trắng CNTT Việt Nam năm 2017, thời gian qua CNTT đã có những bước phát triển quan trọng ở cả 3 lĩnh vực: sản xuất, ứng dụng và cung cấp dịch vụ. Trong đó, năm 2016, doanh thu phần cứng là 58,83 tỷ USD, tương ứng 88%; công nghiệp phần mềm và nội dung số là 3,77 tỷ USD, tương đương 5,58% và nền dịch vụ công nghệ thông tin là 5,07 tỷ USD, tương đương 6,42%. So với ngành công nghiệp ô tô được coi là ngành rất nóng của năm 2016 tổng doanh thu là 3,7 tỷ USD thì ngành CNTT có doanh thu gấp khoảng 2 lần ngành công nghiệp ô tô.

Mặc dù vậy so với trình độ phát triển CNTT của thế giới CNTT nước ta đang ở tụt hậu rất xa và chưa được tích hợp nhuần nhuyễn vào các hoạt động kinh tế xã hội hay trong điều hành chính phủ.

Đại biểu Nguyễn Quốc Bình cho rằng, để phát triển công nghiệp 4.0, trước hết cần nhận thức đúng về yêu cầu chuyển đổi số. Do đó, Chính phủ nên nhanh chóng đưa ra danh sách các tài sản số quốc gia cần được xây dựng, hướng đến xây dựng thương mại điện tử, thanh toán điện tử, các dịch vụ thông minh…Ngoài ra, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng điều chỉnh những việc chưa đúng, chưa đầy đủ về công nghệ thông tin

Ông Bình nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hạ tầng số quốc gia và tài sản số quốc gia. Trong hạ tầng số quốc gia, hạ tầng dữ liệu là quan trọng nhất, phải có chính sách mở cửa, chia sẻ dữ liệu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, cá nhân có thể sử dụng.

“Phải tạo lập Việt Nam số, xã hội số để người dân trở thành công dân số”, đại biểu Binh kết luận.

Chuẩn bị việc chuyển giao VNTP và Mobifone về Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

Báo cáo về công tác chuẩn bị hồ sơ chuyển giao, đại diện Vụ Quản lý doanh nghiệp (Bộ TT&TT) cho biết cả VNPT và Mobifone đều đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ chuyển giao. Riêng về báo cáo tài chính, các doanh nghiệp đang khẩn trương thực hiện và dự kiến hoàn thành trước thời hạn chuyển giao (31/10/2018).

Cụ thể, hiện tại, VNPT còn 14 đầu việc đang triển khai, chưa hoàn thành sẽ chuyển giao để Ủy ban hoàn thành tiếp. Trong đó, riêng việc xếp loại doanh nghiệp năm 2017, VNPT đề xuất để Bộ TT&TT xử lý hoàn thiện trên cơ sở ý kiến của Bộ Tài chính.

Còn với Mobifone, trong 10 đầu việc chưa hoàn thành sẽ chuyển giao Ủy ban thực hiện tiếp. Doanh nghiệp đề xuất 3 việc để Bộ TT&TT thực hiện, bao gồm: Điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển giai  đoạn 2016 – 2020; xếp hạng doanh nghiệp đặc biệt và báo cáo đánh giá xếp loại doanh nghiệp, bởi đây là việc Bộ TT&TT có thể thực hiện được ngay sau khi Bộ Tài chính có ý kiến.

Tại buổi làm việc, Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp Nguyễn Hoàng Anh nhấn mạnh, buổi làm việc này có ý nghĩa rất lớn trước thềm chuyển giao, tạo sự phối hợp tốt giữa Bộ TT&TT và Uỷ ban. Ủy ban đang chủ động gặp gỡ từng doanh nghiệp, mong muốn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng để có phương án, tránh các xáo trộn trong mỗi doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Hoàng Anh cho biết, chậm nhất là trong tháng 11, phải thực hiện xong công tác chuyển giao. Do đó, Ủy ban mong muốn Bộ TT&TT tiếp tục ủng hộ, hỗ trợ để hoàn thành tốt công việc.

Theo Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng, VNPT và Mobifone đều là những doanh nghiệp lớn, quan trọng của ngành viễn thông. Vì vậy, Bộ TT&TT  kỳ vọng Ủy ban sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh và  tạo bước phát triển mới cho doanh nghiệp Nhà nước.

Theo Thanh Xuân

Chinhphu.vn

Đại biểu Quốc hội cảnh báo chuyện quản lý của Bộ GTVT từ dự án 34.000 tỷ vừa mưa đã hỏng

Quốc hội sẽ thảo luận nội dung về kinh tế – xã hội trong 2 ngày 26 và 27/10. Ngay trong phiên thảo luận sáng nay, có 69 đại biểu đăng ký phát biểu.

Đại biểu Nguyễn Anh Trí, đoàn Hà Nội, là người phát biểu đầu tiên. Trước nghị trường, ông Trí cho biết rất phấn khởi trước những chỉ tiêu kinh tế đã đạt được. Đơn cử như GDP cao, 9 tháng đạt 6,88%, nợ công giảm, tỷ trọng đầu tư ngoài nhà nước tăng – được ông xem như là chỉ số tín nhiệm của nhân dân, doanh nghiệp với Chính phủ.

“Đất nước khởi sắc, vận nước đang lên”, đại biểu Trí nói. Dù vậy, ông cho rằng mọi lĩnh vực đều có khía cạnh chưa ổn, chưa an tâm. Trong đó, ông chỉ ra câu chuyện của vốn FDI.

Cụ thể, sau 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài, việc chuyển giao công nghệ còn chưa được như mong muốn, nhiều công nghệ cũ còn để lại, hay ô nhiễm, giải ngân chậm…

Sau Đại biểu Trí là đại biểu Nguyễn Hữu Cầu, đoàn Nghệ An phát biểu. Tương tự người phát biểu trước, ông Cầu tán thưởng những gì nền kinh tế đã đạt được trong thời gian qua. “Đây là năm thứ 2 liên tiếp chúng ta hoàn thành các chỉ tiêu”, ông nói và điểm lại các chỉ số kinh tế đáng lưu ý.

Tuy nhiên, vị đại biểu này cũng đề cập đến một băn khoăn lớn, là thất thoát đầu tư công.

“Trước đây các đại biểu đặt câu hỏi về 12 dự án thua lỗ của Bộ Công thương thì nay đã phát sinh thêm dự án của Bộ GTVT”, vị này nói.

Cụ thể, ông dẫn ra dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi hơn 34.000 tỷ đồng vừa nghiệm thu thông xe sau một vài trận mưa đã hỏng. Dự án đường sắt tuyến đô thị Hà Đông – Cát Linh điều chỉnh vốn thêm 18.000 tỷ đồng, tăng 205%, dự kiến đưa vào hoạt động năm 2013 nhưng 6 năm rồi vẫn chưa xong.

Hay dự án đường sắt đô thị tuyến Bến Thành – Suối Tiên cũng đội vốn hơn 47.325 nghìn tỷ, tăng 272%, dự kiến cuối năm 2018 đi vào hoạt động nhưng đến nay mới thực hiện được 52% khối lượng công việc.

Dẫn ra báo cáo Kiểm toán Nhà nước, đại biểu Cầu cho biết Bộ GTVT có 27/42 dự án điều chỉnh vốn, ước khoảng 97,2 triệu USD. Việc kéo dài dự án khiến lo ngại thất thoát nguồn lực là có.

Điều này khiến vị đại biểu là Giám đốc Công an Nghệ An cho rằng: “Cử tri đòi hỏi Chính phủ xử lý nghiêm sai phạm”. Bởi lẽ thời gian tới, Bộ GTVT sẽ được giao quản lý nhiều dự án quan trọng như sân bay Long Thành, đường cao tốc Bắc – Nam cùng nhiều dự án khác với tổng mức đầu tư hàng triệu tỷ đồng.

Kiểm soát lạm phát cơ bản ở mức 1,5%

Ngày 25/10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng – Phó trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá đã ký ban hành thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ – Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá ngày 28/9/2018.

9 tháng đầu năm, kiểm soát lạm phát theo đúng mục tiêu

Trong 9 tháng đầu năm 2018, công tác chỉ đạo điều hành giá đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ban Chỉ đạo điều hành giá quan tâm, quyết liệt trong chỉ đạo điều hành, theo đúng các kịch bản điều hành giá ngay từ những tháng đầu năm nhằm quyết tâm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu Quốc hội đề ra.

Kiểm soát lạm phát cơ bản ở mức 1,5% - 1,6% - Ảnh 1.
Công tác quản lý, điều hành giá cần tiếp tục cố gắng nỗ lực, đặc biệt không để xảy ra lạm phát kỳ vọng không chỉ của năm 2018 và cả trong năm 2019….

Kết quả, diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 và 9 tháng đầu năm đã đạt được những kết quả tích cực. Mặc dù có nhiều yếu tố tạo áp lực lên mặt bằng giá nhưng CPI tháng 9/2018 chỉ tăng 0,59% so với tháng 8/2018, CPI bình quân 9 tháng đầu năm tăng 3,57% so với cùng kỳ năm 2017.

Đây là mức tăng sát với kịch bản dự báo và cho thấy dù diễn biến các tháng cuối năm vẫn còn thách thức nhưng khả năng thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát bình quân dưới 4% trong năm 2018 theo chỉ tiêu Quốc hội giao là trong tầm kiểm soát của Chính phủ nếu không có các biến động quá bất thường từ diễn biến địa chính – chính trị và thị trường hàng hóa thế giới.

Thông báo cũng chỉ rõ, đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến mặt bằng giá thị trường 3 tháng cuối năm 2018 cho thấy mặt bằng giá thị trường chịu tác động đan xen của các yếu tố làm tăng áp lực và các yếu tố tạo thuận lợi cho công tác điều hành giá.

Trong đó, các yếu tố thuận lợi giúp kiềm chế tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng như: cung cầu hàng hóa, nhất là ngành sản xuất nông nghiệp được cân đối, nguồn cung dồi dào, ổn định; giá thuốc chữa bệnh, vật tư y tế tiếp tục có triển vọng giảm; giá cước viễn thông tiếp tục ổn định và có xu hướng giảm; lạm phát cơ bản ở mức thấp, áp lực tỷ giá đã có dấu hiệu hạ nhiệt, cung tiền, tín dụng được điều hành thận trọng; áp lực về điều hành các mặt hàng nhà nước còn định giá từ nay đến cuối năm không lớn.

Bên cạnh đó, những yếu tố tạo áp lực tăng giá chủ yếu đến từ yếu tố thị trường như xu hướng tăng giá hàng hóa thế giới, trong đó có biến động tăng của giá một số nhiên liệu như xăng dầu, LPG do diễn biến phức tạp của tình hình địa – chính trị thế giới; thiên tai, bão lũ còn nhiều diễn biến phức tạp khó lường. Những yếu tố trên đặt ra cho công tác quản lý, điều hành giá cần tiếp tục cố gắng nỗ lực, đặc biệt không để xảy ra lạm phát kỳ vọng không chỉ của năm 2018 và cả trong năm 2019.

Phấn đấu kiểm soát lạm phát cơ bản ở mức khoảng 1,5% – 1,6%

Để thực hiện được mục tiêu trên, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện tốt các biện pháp điều hành giá đã đề ra từ đầu năm tại các thông báo; trong đó, đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ sau:

Các Bộ, ngành, địa phương chủ động theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường đối với các mặt hàng có xu hướng tăng cao trong thời gian gần đây như xăng dầu, LPG, thịt lợn, cần chủ động rà soát, cân đối cung cầu, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường đặc biệt là trong các thời điểm lễ, Tết. Tiếp tục rà soát để đẩy nhanh thực hiện giảm giá các mặt hàng có khả năng giảm giá (thuốc chữa bệnh cho người, vật tư y tế, dịch vụ sử dụng đường bộ BOT…).

Về chính sách tiền tệ: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt theo tín hiệu thị trường, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát. Tiếp tục thực hiện các biện pháp ổn định tỷ giá và mặt bằng lãi suất; phấn đấu kiểm soát lạm phát cơ bản ở mức khoảng 1,5% – 1,6%. Tiếp tục phối hợp với Bộ Tài chính để điều hòa lượng tiền gửi của Kho bạc nhà nước nhằm giảm áp lực về lượng tiền lưu thông và áp lực lên lạm phát.

Tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc điều hành giá một số mặt hàng cụ thể sau:

Đối với mặt hàng nông sản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường để có biện pháp cân đối cung cầu nhằm ổn định thị trường đối với các mặt hàng lương thực, thực phẩm; Chủ động phối hợp với Bộ Công Thương để có các giải pháp bình ổn giá thịt lợn thành phẩm, không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, theo dõi sát diễn biến dịch bệnh và chủ động có các biện pháp phòng bệnh, tránh lây lan tại các tỉnh giáp ranh; tiếp tục nghiên cứu tìm đầu ra xuất khẩu cho nhiều mặt hàng nông sản để đảm bảo tính bền vững của sản xuất. Chủ động phối hợp với Bộ Công Thương chuẩn bị nguồn hàng đầy đủ để kịp thời ứng phó với các diễn biến bất thường trong mùa mưa bão cũng như chuẩn bị cho các dịp lễ, Tết dương lịch, Tết Nguyên đán.

Đối với Xăng dầu: Trước diễn biến của giá xăng dầu thế giới có xu hướng tăng cao, trên cơ sở kết quả đạt được trong công tác điều hành giá xăng dầu trong thời gian qua, Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, điều hành giá xăng dầu trong nước theo đúng quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá với liều lượng thích hợp. Trường hợp có biến động lớn về giá xăng dầu cần phải tính đến việc tạm không trích quỹ trong một thời gian để góp phần bình ổn giá xăng dầu trong nước. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp để thúc đẩy tăng tỷ trọng sử dụng nhiên liệu sinh học trong tổng lượng tiêu thụ xăng dầu nhằm giảm mặt bằng giá xăng dầu cũng như góp phần bảo vệ môi trường.

Đối với giá điện: Bộ Công Thương phối hợp với các đơn vị liên quan để rà soát các chi phí giá thành của ngành điện trong các năm 2017, 2018 và dự kiến 2019 để đề xuất kịch bản điều hành giá phù hợp cho năm 2019. Trường hợp cần thiết phải tăng giá điện cần cân nhắc điều chỉnh ở mức phù hợp, gắn với đó là việc đẩy mạnh công khai, minh bạch thông tin về giá. Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam tăng cường các giải pháp nhằm giảm chi phí giá thành, tổn thất điện năng, tăng sử dụng các nguồn phát điện có chi phí thấp như thủy điện.

Đối với dịch vụ y tế: Bộ Y tế khẩn trương đánh giá, rà soát sửa đổi các quy định pháp lý để điều chỉnh mức lương cơ sở trong tính giá dịch vụ khám chữa bệnh thực hiện ngay trong năm 2018; chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đánh giá tác động, đề xuất kịch bản điều hành đối với việc kết cấu thêm chi phí quản lý trong giá dịch vụ khám chữa bệnh trong năm 2019.

Đối với thuốc chữa bệnh cho người: Bộ Y tế thống nhất với Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong việc chuẩn bị thủ tục pháp lý đối với việc tổ chức triển khai đấu thầu tập trung quốc gia năm 2019. Khẩn trương triển khai thực hiện đấu thầu tập trung đối với vật tư y tế.

Đối với dịch vụ giáo dục: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tiếp tục phối hợp với các địa phương chủ động nắm bắt thông tin, đánh giá những tác động của việc tăng học phí trong năm học 2018 – 2019; đăng ký và dự kiến mức tăng học phí và việc thực hiện lộ trình giá thị trường trong năm 2019.

Đối với giá vật liệu xây dựng: Bộ Xây dựng theo dõi sát diễn biến giá vật liệu xây dựng, đặc biệt chú trọng theo dõi sát các chính sách và tình hình thương mại quốc tế có khả năng ảnh hưởng đến đầu vào sản xuất.

Đối với dịch vụ vận tải: Bộ Giao thông vận tải tăng cường quản lý giá cước vận tải hành khách, giám sát công tác kê khai và điều chỉnh giá của các doanh nghiệp vận tải, đảm bảo nhu cầu đi lại cho người dân trong các dịp lễ, Tết.

Đối với dịch vụ hàng hải: Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu xây dựng lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ bốc dỡ container phù hợp với mặt bằng giá các nước trong khu vực và điều kiện thực tế tại Việt Nam. Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê), Bộ Tài chính trong việc đánh giá tác động của lộ trình điều chỉnh để không gây tác động đến chỉ số CPI và các mặt kinh tế xã hội khác.

Đối với dịch vụ viễn thông: Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp tục triển khai và quản lý giá cước dịch vụ viễn thông theo quy định tại Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn Thông; phối hợp với Bộ Tài chính để quản lý giá cước dịch vụ viễn thông phù hợp với các quy định tại Luật Viễn thông, Luật Giá và các văn bản hướng dẫn…

Ngành thép Việt sẽ lao đao vì chiến tranh thương mại?

Ảnh hưởng của việc áp thuế không quá lớn đến Việt Nam

Ngày 21/5/2018, Bộ Thương mại Mỹ tuyên bố áp thuế chống bán phá giá 199,76% và chống trợ giá 256,44% đối với loại thép cán nguội được nhập từ Việt Nam nhưng sử dụng vật liệu từ Trung Quốc. Tỷ lệ tương ứng đối với loại thép chống gỉ lần lượt là 199,43% và 39,05%.

Sự gia tăng về thuế này chắc chắn có tác động phần nào đến ngành thép Việt Nam, nhưng các công ty thép trong nước vẫn lạc quan rằng sẽ không ảnh hưởng quá lớn đến tình hình kinh tế chung, và các nhà xuất nhập khẩu vẫn có thể được miễn giảm thuế nếu họ có thể chứng minh được sản phẩm của mình được sản xuất trên nguyên liệu có nguồn gốc từ Việt Nam hoặc bất cứ quốc gia nào khác, ngoại trừ Trung Quốc.

Việc tăng mức thuế suất sẽ ảnh hưởng đến những nhà sản xuất trong nước, tuy nhiên tác động đến toàn bộ nền kinh tế là không đáng kể.

Năm 2017, lượng thép xuất khẩu sang Mỹ chiếm 11,1% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam, nhưng mặt hàng thép chỉ chiếm chưa tới 2% tổng sản lượng xuất khẩu.

Dù vậy, các công ty xuất khẩu thép của Việt Nam cũng cần cẩn trọng trong các quy trình, tìm hiểu rõ các thủ tục cần thiết để việc xuất khẩu sang Mỹ gặp thuận lợi, không bị phạt do những quy định khắt khe của nước này.

Ngành thép Việt sẽ lao đao vì chiến tranh thương mại? - Ảnh 1.

Biết vượt qua khó khăn để nắm bắt cơ hội

Sản lượng thép tiêu thụ trong nước tăng 25,7% từ năm 2013 đến năm 2016, đưa Việt Nam trở thành thị trường tiêu thụ thép lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á. Năm 2018, lượng cầu quốc nội được dự báo sẽ tăng từ 20 – 22%, đạt mức 27 triệu tấn, giữ vững vị trí số 1 khu vực và lọt top 10 trên thế giới.

Thu nhập từ xuất khẩu thép năm 2017 của Việt Nam đạt 3,64 tỷ USD, tăng 45,4% so với năm 2016, trong khi lượng nhập khẩu đạt 20 triệu tấn, trị giá 10,5 tỷ USD, giảm gần 14,2% về sản lượng nhưng tăng 13,2% về giá trị so với năm 2016. Trong 2 tháng đầu năm nay, sản lượng thép xuất khẩu đã tăng 38,6% so với cùng kì năm trước, đạt 728 nghìn tấn.

Tuy nhiên, các công ty trong nước mới chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu quốc nội, có thể dẫn tới thâm hụt thương mại đáng kể. Do tốc độ đô thị hóa nhanh, cơ sở hạ tầng được chú trọng đầu tư phát triển, khoảng cách giữa cung và cầu này để lại một sự lãng phí trên thị trường cho các công ty trong nước.

Những công ty Việt Nam như Formosa, Pomina, Tập đoàn Hoa Sen, hay Thép Hòa Phát cũng đã phần nào nhận thức được nhu cầu lớn này và gia tăng thêm sự đầu tư trong nước.

Thuế xuất nhập khẩu tăng sẽ thúc đẩy tính cạnh tranh của các công ty trong nước, đặc biệt là trong thị trường nội địa. Tổng cung trong khu vực Đông Nam Á được dự báo sẽ tăng, từ đó dẫn đến việc giảm giá mặt hàng này, người được hưởng lợi cuối cùng sẽ là người tiêu dùng.

Mặc dù chiếm 11,2% sản lượng thép xuất khẩu của Việt Nam, giữ vị trí thứ 2 trong số những thị trường nhập khẩu  thép lớn nhất từ nước ta (sau ASEAN với 59,3%), lượng thép này chỉ chiếm 5% tổng sản lượng thép nhập khẩu của Mỹ.

Để đối phó với việc Mỹ áp mức thuế chống bán phá giá cao, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và danh mục sản phẩm của mình để tối thiểu hóa tổn thất. Gần 60% lượng thép xuất khẩu sang thị trường ASEAN, do đó vấn đề thuế của Mỹ không có tác động quá lớn. 

Tuy nhiên, các công ty trong nước vẫn cần phải đầu tư vào công nghệ, gia tăng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất nếu muốn thâm nhập vào những thị trường mới hay hỗ trợ phát triển thị trường nội địa. Đây cũng là cơ hội để họ tập trung vào các thị trường khác, bù lại sự giảm sút từ việc xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

Với rất nhiều các hiệp định FTA đã có hiệu lực hay như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương đang trong quá trình phê chuẩn, Việt Nam sẽ gia tăng cơ hội gia nhập những thị trường mới. Theo dự báo của Hiệp hội Thép thế giới, nhu cầu thép của thế giới sẽ tiếp tục tăng năm 2018. Do đó các công ty Việt Nam nên tập trung vào những thị trường mới, mở ra cơ hội phát triển rộng rãi, toàn diện hơn.

Thuế 0%, người Việt lại mơ ô tô châu Âu giá rẻ

Người tiêu dùng đang kỳ vọng thời gian tới giá xe hơi nhập khẩu từ châu Âu sẽ giảm nhanh . Bởi theo lộ trình của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam (VN) – EU (EVFTA), thuế suất dành cho ô tô nhập khẩu từ châu Âu về VN sẽ là 0% sau 7-9 năm tính từ khi hiệp định chính thức có hiệu lực. Thuế suất dành cho phụ tùng xe hơi cũng sẽ được giảm về 0% sau bảy năm, trong khi thuế hiện hành trên 32%.

Hiện tại, mức thuế đánh vào ô tô nhập khẩu từ châu Âu lên đến 70%-78% tùy loại. Riêng mặt hàng xe tải dưới 5 tấn, bao gồm cả xe bán tải, đang được áp thuế nhập khẩu 65%. Khi EVFTA có hiệu lực dự kiến từ năm 2019, việc giảm thuế cũng có hiệu lực ngay. Theo tính toán, bình quân một năm sẽ giảm thuế khoảng 7%.

Không giảm ngay lập tức

Hiện nay ô tô từ châu Âu nhập khẩu về VN chủ yếu là xe hạng sang như Mercedes-Benz, Audi, BMW, Land Rover hay xe siêu sang như Rolls-Royce, Bentley… Những dòng xe này đang phải chịu thuế suất thuế nhập khẩu 70%-78% tùy loại.

Ông Nguyễn Duy Hậu, chủ đại lý kinh doanh ô tô nhập khẩu từ châu Âu và Mỹ, tính toán: Nếu thuế nhập khẩu bằng 0%, về lý thuyết giá ô tô sẽ giảm mạnh nhất là đối với những xe nhập từ các nước đang chịu mức thuế cao như châu Âu.

Ví dụ, các mẫu xe BMW 330i vừa ra mắt tại thị trường châu Âu có giá bán khoảng 33.600 euro. Khi thuế nhập khẩu từ mức 78% về 0%, giá dòng xe này sẽ không phải cõng thêm khoản thuế 26.000 USD, tương đương gần 700 triệu đồng. Điều này có nghĩa khi được miễn thuế, giá chiếc xe trên giảm trên 700 triệu đồng mỗi chiếc.

Tương tự, với những mẫu xe đắt đỏ hơn như Audi Q8 (dung tích động cơ trên 3.0 lít), giá hiện khoảng 89.000 euro. Mẫu xe này đang chịu mức thuế nhập khẩu về VN khoảng 65.800 euro, tương đương trên 1,7 tỉ đồng. Nếu thuế nhập khẩu được miễn, giá mẫu xe trên bán tại VN sẽ giảm hàng tỉ đồng, vì khi giá xe nhập giảm thì thuế tiêu thụ đặc biệt, lệ phí trước bạ… cũng sẽ giảm theo.

Thuế 0%, người Việt lại mơ ô tô châu Âu giá rẻ - Ảnh 1.

Người tiêu dùng đang kỳ vọng giá xe sang, siêu sang sẽ giảm khi thuế về 0%. Ảnh: QH

Một chiếc xe siêu sang có giá khai báo 300.000 USD, dung tích xylanh 6.0 lít, hiện nhập về VN phải chịu thuế nhập khẩu 70%, thuế tiêu thụ đặc biệt 150% và thuế giá trị gia tăng 10%… Nhưng khi thuế giảm về 0%, giá chiếc xe này giảm khoảng 600.000 USD.

Tuy nhiên, theo ông Hậu, mức thuế nhập khẩu theo FTA giảm theo lộ trình dài nên giá xe cũng không giảm sốc một lần mà giảm từ từ, tức mỗi năm giảm một ít.

Bà Nguyễn Thị Hiền (chủ đại lý Hiền Toyota trên đường Phạm Hùng, huyện Bình Chánh, TP.HCM) cũng cho biết xe châu Âu nhập về VN chủ yếu là các thương hiệu như Audi, BMW, Mercedes-Benz… Phần lớn các hãng đều thâm nhập thị trường VN bằng con đường nhập khẩu chứ không sản xuất, lắp ráp tại nước ta.

Những dòng xe này được nhập về từ trước đến nay giá thường cao ngất ngưởng, gấp 2-3 lần các nước trong khu vực do thuế, phí cao. Do vậy, hy vọng khi được miễn thuế thì giá xe sẽ giảm nhưng khó giảm sâu và ngay lập tức.

Bên cạnh xe nhập khẩu từ châu Âu, xe lắp ráp trong nước hiện có thuế nhập khẩu linh kiện 20%-32%. Do đó, khi thuế giảm về 0% thì giá xe cũng sẽ giảm theo.

Đừng kỳ vọng quá nhiều

Nhiều ý kiến đều thống nhất: Về lý, nhiều mẫu xe sang và siêu sang sẽ giảm giá từ hàng trăm triệu đến hàng tỉ đồng. Tuy nhiên, giá xe sang có giảm hay không và giảm nhiều hay ít còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hàng rào chính sách, hàng rào kỹ thuật… để bảo vệ ngành sản xuất, lắp ráp ô tô nội địa.

Anh Thanh Duy (quận 11, TP.HCM) nói người tiêu dùng VN từng chờ đợi rồi nhận thất vọng khi thuế ô tô nhập từ khu vực ASEAN về 0% nhưng giá xe vẫn không giảm. “Nếu thuế nhập khẩu giảm mà chính sách thay đổi xoành xoạch, rồi tăng thuế tiêu thụ đặc biệt, tăng lệ phí trước bạ… thì người mua cũng không được hưởng lợi” – anh Duy nói.

Ông Trần Tấn Trung, đại diện cho đơn vị nhập khẩu, phân phối dòng xe sang Audi tại VN, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Liên Á Quốc tế, thì nhìn nhận lộ trình giảm thuế về 0% dài nên chưa đánh giá chính xác được sẽ tác động cụ thể đến giá xe nhập khẩu.

Nhưng kinh nghiệm cho thấy từ đầu năm 2018, theo cam kết khu vực mậu dịch tự do ASEAN, thuế nhập khẩu ô tô giảm về mức 0% nhưng giá xe không giảm như mong muốn. Thậm chí việc nhập khẩu khó khăn với số lượng xe về ít khiến một số mẫu xe còn tăng giá, khan hàng, khó mua hơn.

“Như vậy, giảm thuế xe nhập từ châu Âu cần kèm theo các chính sách nhập khẩu thông thoáng, hợp lý, dân mới được mua ô tô giá thấp hơn hiện nay. Nếu lại tạo các rào cản ngăn xe nhập khẩu từ châu Âu về thì đừng quá kỳ vọng giá xe giảm” – ông Trung chia sẻ.

Đồng quan điểm, chuyên gia ô tô Nguyễn Minh Đồng cũng đánh giá rào cản lớn nhất cho việc giảm giá xe hơi nhập khẩu từ châu Âu không phải lộ trình giảm thuế mà nằm ở việc điều chỉnh chính sách thuế, chính sách nhập khẩu của VN. Điển hình như câu chuyện Nghị định 116/2017 tạo ra hàng rào thủ tục hành chính làm khó đối với các hãng xe nhập khẩu.

“Những chính sách mang tính hành chính khiến các hãng xe nhập khẩu tốn thêm thời gian, thêm chi phí và làm tăng giá bán, ảnh hưởng túi tiền của chính người tiêu dùng ” – ông Đồng nói.

Xe nhập giảm mạnh do rào cản thủ tục

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tám tháng đầu năm nay, ô tô nhập khẩu vào VN giảm rất mạnh, giảm 56% về số lượng và giảm 51% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017.

Nguyên nhân khiến ô tô nhập khẩu giảm mạnh là do Nghị định 116 của Chính phủ có hiệu lực từ cuối năm 2017 đã gián tiếp thúc đẩy ngành sản xuất ô tô nội địa, tạo một số khó khăn cho nhập khẩu.

Thị trường châu Âu cũng gặp khó khăn từ Nghị định 116 khi hầu như không có chiếc xe nào được nhập từ thị trường này trong bốn tháng đầu năm. Tuy nhiên, vào tháng 5, Bộ GTVT đã chấp thuận giấy chứng nhận chất lượng kiểu loại ô tô nhập khẩu (VTA) do Liên minh châu Âu cấp. Dự báo những tháng cuối năm 2018 sẽ chứng kiến sự tăng trưởng nhẹ trong số xe nhập khẩu từ châu Âu.